Trang chủ Kiến thức Nano bạc và 3 tính năng thay thế Povidone-Iodine trong khử trùng vết thương

Nano bạc và 3 tính năng thay thế Povidone-Iodine trong khử trùng vết thương

Nano Power
Xuất bản: Cập nhật 567 views

Công nghệ Nano bạc với cơ chế tạo ra Nano bạc tinh khiết với diện tích bề mặt cao hơn, mang lại hiệu quả kháng khuẩn tốt hơn và ít độc tính hơn. Nano Bạc được ứng dụng trong khử trùng vết thương, thay thế povidone iodine.

1. chuẩn bị và nghiên cứu nano bạc

Chữa lành vết thương là một quá trình phức tạp của quá trình viêm, tăng sinh yếu tố tăng trưởng, hình thành mạch máu và tái tạo mô & chất nền, với mục tiêu cuối cùng là phục hồi nhanh chóng với sẹo tối thiểu và các chức năng tối đa. Nhiều công thức bôi ngoài da đã đóng một vai trò quan trọng trong việc xử lý vết thương, trong đó Povidone iodine và bạc từ lâu đã được biết đến với đặc tính kháng khuẩn.

Từ tháng 11 năm 2014 đến tháng 5 năm 2016, có tổng cộng 60 bệnh nhân bị loét chân mãn tính do đái tháo đường được nhận vào bệnh viện cấp 3 chăm sóc, 30 bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên vào nhóm băng Povidone iodine và 30 bệnh nhân trong nhóm Nano bạc, để so sánh thời gian thực hiện tạo thành mô hạt, thời gian khỏi bệnh hoàn toàn, thời gian nằm viện và tổng chi phí điều trị.

2. Kết quả nghiên cứu về Nano Bạc

Nano Bạc có thời gian lành thương nhanh hơn so với Povidone iodine

Các bệnh nhân trong nghiên cứu này ở độ tuổi từ 40 đến 60 với tỷ lệ nam giới chiếm ưu thế cao (83% ở Povidone iodine và 67% ở Nano bạc). Tất cả các vết loét đều bong ra, nên lấy tăm bông để kiểm tra độ nhạy cảm của dịch cấy.

Sự giảm bong tróc và tạo hạt được quan sát thấy vào cuối mỗi tuần cho đến 6 tuần thay băng, với kết quả lành thương tốt hơn được thấy ở nhóm Nano bạc từ tuần thứ 2 của băng (17% so với%). Thời gian nằm viện ngắn hơn ở nhóm Nano bạc. (Chênh lệch trung bình 6,63 ngày) và chi phí điều trị cũng ít hơn đáng kể ở những bệnh nhân sử dụng Nano bạc (Chênh lệch trung bình là 3416 INR khoảng 47 USD).

Ứng dụng Nano Bạc trong chữa lành vết thương sẽ giảm viện phí đáng kể

Sự xuất hiện nhanh hơn của mô hạt và sự chuẩn bị cho việc ghép da đã được thấy ở nhóm Nano bạc. Thời gian nằm viện và chi phí điều trị tổng thể cũng thấp hơn nên băng nano bạc có thể được coi là một lựa chọn tốt hơn Povidone iodine trong việc quản lý an toàn và nhanh chóng bệnh nhân bị loét chân mãn tính do bệnh tiểu đường.

Nano bạc có thể thay thế Povidone-Iodine cho khử trùng vết thương

Sát trùng vết thương.

3. Ứng dụng của nano bạc

3.1. Loét bàn chân do bệnh tiểu đường

Bệnh tiểu đường là nguyên nhân hàng đầu gây ra tình trạng cắt cụt chi dưới không do chấn thương, một biến chứng phổ biến của bệnh loét chân hoặc bàn chân mãn tính không được điều trị. Loét bàn chân do tiểu đường là sự thâm nhập toàn bộ độ dày của lớp hạ bì và mức độ nghiêm trọng của vết loét thường được phân loại bằng cách sử dụng hệ thống của Wagner để –

Độ 1 – Vết loét bề ngoài.

Độ 2 – Loét sâu đến gân, xương hoặc khớp.

Độ 3 – Loét có áp xe hoặc viêm tủy xương.

Lớp 4 – Hoại tử bàn chân trước.

Độ 5 – Hoại tử toàn bộ bàn chân.

Loét bàn chân do tiểu đường gây ra bởi sự kết hợp của nhiều nguyên nhân khác nhau như bệnh thần kinh ngoại biên, bệnh mạch máu ngoại vi (PAD), và chấn thương ở bàn chân.

Quản lý vết loét do đái tháo đường là một phương pháp tiếp cận nhiều mặt để điều chỉnh lối sống, chế độ ăn uống lành mạnh, kiểm soát tích cực bệnh đái tháo đường, quản lý các bệnh đi kèm và quản lý vết loét. Thường xuyên tẩy da chết, sau đó sử dụng các vật liệu băng khác nhau như hydrogel, bọt, i-ốt, ion bạc hoặc vỏ da đang thịnh hành, giúp giữ ẩm cho vết thương để vết thương tự tan và cung cấp lipid thuộc mảng kháng khuẩn.

3.2. Ứng dụng Nano Bạc trong chữa loét bàn chân

Các ion bạc là một trong những chất kháng khuẩn đã được chứng minh nhất cũng có đặc tính khử trùng và chống viêm [bao gồm tác dụng chống lại vi khuẩn kháng kháng sinh như Staphylococcus aureus kháng Methicillin (MRSA) và cầu khuẩn ruột kháng vancomycin (VRE)]. 4

Công nghệ Nano cho phép mở rộng diện tích bề mặt của các hạt bạc lên kích thước Nano, do đó tăng thời gian tiếp xúc với vi khuẩn hoặc nấm, tăng cường đáng kể tác dụng diệt khuẩn và diệt nấm của ion bạc.

Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của băng Nano bạc so với băng Povidone iodine về tốc độ lành vết thương, kiểm soát sớm nhiễm trùng khi có mô hạt, tổng thời gian nằm viện cũng như chi phí điều trị.

4. Tài liệu và phương pháp thí nghiệm – iodine và nano bạc

Dữ liệu được thu thập bằng cách sử dụng proforma Ghi lại trường hợp (CRP) bao gồm tất cả lịch sử chi tiết, phát hiện lâm sàng, điều tra định kỳ, tầm soát bệnh tiểu đường, chụp X-quang bàn chân và các nghiên cứu. Nghiên cứu Doppler về động mạch và tĩnh mạch và độ nhạy với nuôi cấy dịch tiết từ vết loét.

Các số ngẫu nhiên do máy tính tạo ra bằng cách sử dụng ngẫu nhiên khối được sử dụng để phân chia ngẫu nhiên các bệnh nhân thành 2 nhóm – 30 người trong nhóm băng vết thương Povidone iodine và 30 người trong nhóm băng vết thương Nano bạc, với sự trợ giúp của các phong bì được đánh số niêm phong.

Bệnh nhân bị loét do đái tháo đường liên quan đến bệnh mạch máu ngoại vi và giãn tĩnh mạch (được chẩn đoán bởi Nghiên cứu Doppler), viêm tủy xương, bệnh ác tính khi điều trị bằng steroid và không đáp ứng với liệu pháp điều trị đái tháo đường (Chỉ số hơn 250 mg%) sau 2 tuần điều trị không được đưa vào nghiên cứu tập đoàn.

Tất cả các bệnh nhân được áp dụng một chế độ điều trị tiểu đường nghiêm ngặt, được bao phủ bởi thuốc kháng sinh (theo báo cáo nuôi cấy), sau đó là tẩy lông hàng ngày và bằng vết thương bằng các loại băng tương ứng. Mục đích cuối cùng của việc xử trí là chữa lành hoàn toàn các vết loét nhỏ hoặc sự xuất hiện của các mô u hạt khỏe mạnh không có vi khuẩn, làm cho bệnh nhân thích hợp để ghép da tách đôi. Các thông số nghiên cứu bao gồm:

– Chữa bệnh nhanh chóng.

– Kiểm soát nhiễm trùng và tạo hạt sớm.

– Thời gian điều trị và thời gian nằm viện ngắn hơn nên giảm được ngày công lao động.

– Tổng chi phí điều trị.

– Phân tích thống kê

Trong nghiên cứu can thiệp so sánh tiền cứu này, phân tích thống kê được thực hiện bằng cách sử dụng STATA 11.2 (College Station, TX, USA). Thử nghiệm Shapiro-Wilk được sử dụng để tìm tính bình thường. Các bài kiểm tra “T” của sinh viên được thực hiện để tìm ra sự khác biệt đáng kể giữa tuổi, thời gian nằm viện, diện tích bề mặt vết thương và tổng chi phí, được biểu thị bằng giá trị trung bình và độ lệch chuẩn.

Phép thử “Chi” bình phương được sử dụng để đo mối liên quan giữa giới tính, kích thước của vết loét, sự hiện diện của mô bong tróc hoặc mô hạt và được biểu thị bằng tần suất hoặc phần trăm p <0. 05 được coi là có ý nghĩa thống kê.

5. Kết quả thử nghiệm nano bạc

Bệnh nhân từ cả hai nhóm được cho là giống nhau về tuổi, giới tính và sự phân bố diện tích bề mặt vết loét. Bệnh nhân tối đa từ 41-60 tuổi, chiếm 70% ở nhóm Povidone iodine và 63,4% ở nhóm Nano bạc. Ưu tiên nam giới ở cả hai nhóm – 83% (PI) và 67% (Nano bạc).

Bệnh nhân được chia thành 4 nhóm theo kích thước vết loét – A (<5 cm), B (5-7,5 cm), C (7,5-10) và D (> 10 cm). Cả hai nhóm đều băng vết thương giống nhau về mặt thống kê (p = 0,449) về tổng số bệnh nhân trong mỗi nhóm. (Bảng 1 và Hình I).

Parameter Povidone iodine Nano bạc Value p
N = 30 (%) N = 30 (%)
Age)

0-20

0 0% 0 0% 0,478
21-40 số 8 26,70% 10 33,30%
41-60 21 70% 19 63,40%
61-80 1 3,30% 1 3,30%
Average ± SD 49,73 ± 12,48 47,47 ± 12,13
Sex / Male 25 83% 20 67% 0,135
Female 5 17% 10 13%
Size of ulcer (cm 2 )

A (<5)

4 13% 9 30% 0,449
B (5-7,5) 7 23% 5 17%
C (7,5-10) 6 20% 6 20%
D (> 10) 13 43% 10 33%
Table 1: Demographic Data of Patient Population

Nano bạc có thể thay thế Povidone-Iodine cho khử trùng vết thương

So sánh sự giảm bong vảy với sự xuất hiện của mô u hạt dựa trên tải lượng vi khuẩn

Số bệnh nhân bị loét tróc vảy ở cả hai nhóm (lúc nhập viện và 1 tuần sau khi thay băng) không đáng kể (p = 1.000). Vào cuối tuần thứ 2, 26 bệnh nhân (87%) trong nhóm PI và chỉ 13 bệnh nhân (43%) trong nhóm NS bị bong da, điều này có ý nghĩa thống kê (p = <0,001).

Tương tự như vậy, vào cuối tuần thứ 3, 4 và 3, sự xuất hiện nhanh hơn của mô hạt khỏe mạnh được nhìn thấy ở bệnh nhân nhóm NS – 26 (87%) và 29 (97%) so với bệnh nhân trong nhóm PI cho thấy 9 (30% và 18 (60% tương ứng), có ý nghĩa thống kê cao (p = <0,001). Tính đến cuối tuần 5 ngày & 6 ngày, tất cả bệnh nhân trong cả hai nhóm đều không bị bong da và có mô hạt khỏe mạnh, thích hợp cho việc ghép da tách đôi. (Hình II & III).

Trong quá trình thay băng, các sinh vật chính gặp ở cả hai nhóm là Haemophilus (6 bệnh nhân), Klebsiella (9 bệnh nhân), Proteus (9 bệnh nhân), Pseudomonas (10 bệnh nhân), Staphylococcus A mạo hiểm giả (15 bệnh nhân) và Streptococcus (11 bệnh nhân). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong lần thay băng trước (p = 0,844) và sau khi thay băng cũng không có ý nghĩa (p = 0,720). Nhưng việc giảm tải lượng vi khuẩn đạt được nhanh hơn ở bệnh nhân nhóm NS như được mô tả trong Bảng 2.

Parameter Povidone iodine Nano bạc p-Value
N = 30 % N = 30 %
1.     1.      Slough’s Presence
Baseline (Day 1) 29 97 29 97 1.000
1 week (day th 7 ) 28 93 24 80 0,129
2 weeks (day th 14 ) 26 87 13 43 <0,001
3 weeks (day th21 ) 21 70 4 13 <0,001
4 weeks (day th 28 ) 12 40 1 3 <0,001
5 weeks (day th 35 ) 6 20 0 0 <0,001
6 weeks (day th 42 ) 0 0 0 0 <0,001
2. Presence of granulomatous tissue
Baseline (Day 1) 1 3 1 3 1.000
1 week (day th 7 ) 2 7 6 20 0,129
2 weeks (day th 14 ) 4 13 17 57 <0,001
3 weeks (day th 21 ) 9 30 26 87 <0,001
4 weeks (day th 28 ) 18 60 29 97 <0,001
5 weeks (day th 35 ) 24 80 30 100 <0,001
6 weeks (day th 42 ) 30 100 30 100 <0,001
1.     3.    Preliminary bacterial load
Haemophilus 3 10 3 10 0,844
Klebsiella 4 13 5 17
Proteus 4 13 5 17
Pseudomonas 6 20 4 13
Staphylococcus 9 30 6 20
Streptococcus 4 13 7 23
After getting dressed 0,720
No 23 77 25 83
Haemophilus 1 3 1 3
Proteus 0 0 1 3
Pseudomonas 4 13 2 6
Staphylococcus 2 6 1 3
Table 2. Comparison of sloughing versus granulation tissue and the amount of bacteria that cause ulcers

Value p <0,05 = significantly*

 Kết quả của việc kiểm soát vết loét

Kích thước vết loét trung bình lúc nhập viện & sau sáu tuần ở nhóm PI lần lượt là 10,13 + – 5,94 và 9,28 + – 4,94. Trong khi ở nhóm NS lần lượt là 8,95 + – 5,81 và 7,00 + – 4,29. Giá trị P không có ý nghĩa thống kê.

Khi so sánh kết quả chữa lành vết loét đến 6 tuần ở nhóm PI, 4 bệnh nhân (100%) ở nhóm A, 2 bệnh nhân (29%) ở nhóm B và 1 bệnh nhân (17%) ở nhóm C có biểu hiện viêm loét đại tràng. vết loét lành hẳn, ngược lại Con số này ở nhóm NS là 9 bệnh nhân (100%) nhóm A, 2 bệnh nhân (40%) nhóm B và 1 bệnh nhân (17%) nhóm C. số còn lại phải ghép da theo độ dày. Tổng thời gian nằm viện ngắn hơn đáng kể ở bệnh nhân nhóm NS với sự khác biệt trung bình là 6,63 ngày (p = 0,002 *) và chi phí tổng thể cao hơn ở nhóm PI với sự khác biệt trung bình là 3416 INR và giá trị p có ý nghĩa là 0,023 *. (Bảng III).

Parameter Povidone iodine

N = 30

Nanosilver

N = 30

Other meanings P-

Value

1.     Healing results

(up to 6 weeks)

Healed SSG Flap
Group A (4) 4 (100%)
B (7) 2 (29%) 5 (71%)
C 6) 1 (17%) 5 (83%)
D (13) 12 (92%) 1 (8%)
Healed SSG Flap
Group A (9) 9 (100%)
B (5) 2 (40%) 3 (60%)
C 6) 1 (17%) 5 (83%)
D (9) 8 (89%) 1 (11%)
2.Wound surface area (cm 2 )

(mean ± SD)

Baseline (Day 1) 10,13 ± 5,94 8,95 ± 5,81 1.18 0,390
1 week (day th  7 ) 10 ± 5,91 8,75 ± 5,78 1,25 0,366
2 weeks (day th  14 ) 9,40 ± 6,24 8,19 ± 5,37 1,21 0,443
3 weeks (day th 21) 9,18 ± 5,85 9,14 ± 4,61 0,982 0,943
4 weeks (day th  28 ) 9,02 ± 5,78 8,57 ± 4,12 0,45 0,816
5weeks (day th 35 ) 9,15 ± 5,13 9,10 ± 3,38 0,05 0,713
6 weeks (day th  42 ) 9,28 ± 4,94 7,00 ± 4,29 2,28 0,395
3. Length of hospital stay (days) (average ± SD) 37,43 ± 6,93 30,80 ± 9,00 6,63 0,002 *
4.Total cost (INR) (average ± SD) 14833,33 ± 6156,48 11416,67 ± 5635,61 3416 0,023 *
Table 3: Outcomes of ulcer management

valuep <0,05 = significantly *

6. Thảo luận về kết quả nghiên cứu 

6.1. Liệu trình nghiên cứu

Liệu trình tiền cứu này được thực hiện trên 60 bệnh nhân bị loét chân / bàn chân mãn tính do đái tháo đường. Nhóm nghiên cứu gồm 60 bệnh nhân được chia thành hai nhóm bằng nhau và có thể so sánh được, mỗi nhóm 30 người trong nhóm Povidone iodine và Nano Bạc. Cả hai nhóm đều giống nhau về tuổi tác, giới tính, kích thước vết loét, sự hiện diện của chất nhầy và lượng vi khuẩn tại thời điểm nhập viện.

Có rất ít bài so sánh kết quả kiểm soát vết loét giữa băng gạc Povidone iodine và Nano bạc, vì vậy loạt bài của chúng tôi là một trải nghiệm học tập hướng tới phân tích so sánh. Trong nghiên cứu được thực hiện bởi Kapur V & Marwaha AK, 6 họ đã báo cáo giảm 90% chất nhờn trong 18 ngày (từ 2 đến 3 tuần) với Povidone iodine, trong khi trong loạt nghiên cứu này, kết quả không thể so sánh được vì chỉ thấy giảm 60% chất nhờn. đến tuần thứ 4 điều trị bằng Povidone iodine. Và giảm 90% chỉ sau tuần thứ 5. Do đó, thời gian thực hiện để giảm chất nhầy trong nghiên cứu này đối với bệnh nhân trong nhóm PI dài hơn.

6.2. So sánh sự giảm dịch nhầy trong vết thương

So sánh kết quả của Povidone iodine với Nano Bạc, Singh S và Apte A 7 trong nghiên cứu của họ báo cáo rằng thời gian trung bình được thực hiện để giảm mảng bám ở nhóm NS là 11,6 ngày (tuần 2) và 18,91 ngày (tuần 3) ở nhóm PI. với giá trị ap <0,0001. Nhưng trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân trong Nhóm Nano Bạc cho thấy giảm 87% chất nhầy trong tuần thứ 3 (p <0,001) và 97% vào tuần thứ 4 (p <0,001).

Thời gian theo dõi lâu hơn so với nghiên cứu so sánh có thể là do thời gian kiểm soát tích cực bệnh tiểu đường. Sự xuất hiện của mô u hạt ở 10% bệnh nhân nhóm PI và 57% bệnh nhân nhóm NS vào cuối tuần thay băng thứ 2 với giá trị p <0,001.

6.3. So sánh sự thay đổi về diện tích vết loét

So sánh sự giảm tổng thể diện tích bề mặt vết loét ở cả hai nhóm, Ramanaiah NV và Saikrishna et al.8 cho thấy tỷ lệ này là 94,81% ở nhóm NS so với 84,69% ở nhóm PI, có ý nghĩa thống kê. Nhưng không có đề cập đến thời gian cần thiết để giảm tỷ lệ phần trăm này và do đó không thể so sánh ngang bằng với nghiên cứu hiện tại, nơi chúng tôi tìm thấy sự thay đổi kích thước vết loét từ 8,95+ – 5,81 cm2 đến 7,00 + – 4,29 cm 2 vào cuối 6 hàng tuần.

Ở bệnh nhân NS và từ 10,13 + – 5,9 cm 2 đến 9,28 + -4,94 cm 2 trong cùng thời gian ở bệnh nhân PI. Nghiên cứu của chúng tôi nhấn mạnh rằng loại vật liệu băng không gây ra bất kỳ sự khác biệt đáng kể nào trong việc giảm kích thước vết loét.

6.4. Khả năng kiểm soát vi sinh vật phát triển tại vết thương

Singh S và Apte A 7 trong nghiên cứu của họ cho thấy rằng thời gian trung bình để tăng trưởng không đạt ở nhóm Iốt là 14,63 ngày và 9,60 ngày ở nhóm NS, có ý nghĩa thống kê (p <0,001). Nhưng trong nghiên cứu của chúng tôi, cả hai nhóm được phát hiện là giống nhau về mặt thống kê ở giai đoạn sơ chế (p = 0,844) và sau khi băng vết thương (p = 0,720) về mức độ đạt được trạng thái không có sinh vật nào để kiểm soát thêm. Nhưng trạng thái không có vi khuẩn đã đạt được ở nhóm NS sớm hơn so với nhóm PI, do đó làm giảm đáng kể thời gian nằm viện.

Trong một nghiên cứu, thời gian nằm viện ở nhóm NS (30,0 + – 9,09 ngày) ngắn hơn đáng kể so với nhóm PI (37,43 + – 6,93 ngày) và cũng có ý nghĩa thống kê (P <0,002). Kết quả của chúng tôi có thể so sánh với kết quả của Ramanaiah et al. 8, những người cũng nhận thấy thời gian lưu trú ngắn hơn có ý nghĩa thống kê (P <0,001) trong nghiên cứu của họ ở bệnh nhân NS. .

Do thời gian lưu trú ngắn hơn, bệnh nhân trong nhóm NS đã chi tiêu khoảng 11416,67 + – 5635,61 (INR) trong nghiên cứu của chúng tôi, trong khi nhóm khác chi tiêu 14833,33 + – 6165,48 (INR), với sự khác biệt trung bình là 3414 INR, có ý nghĩa thống kê (p <0,023). Không có nghiên cứu so sánh nào được tìm thấy về tổng chi phí phát sinh ở cả hai nhóm nhưng trong nghiên cứu của Stephens R, Silverstein P và cộng sự, đã quan sát thấy việc giảm 33% chi phí lao động và cung ứng khi bạc được sử dụng so với các phương pháp xử lý tiêu chuẩn khác.

7. Kết luận khả năng ứng dụng nano bạc thay thế Povidone iodine

Loét bàn chân do đái tháo đường không chỉ là vấn đề nghiêm trọng đối với bệnh nhân mà còn là mối quan tâm lớn về chăm sóc sức khỏe do mất nhân công và chi phí điều trị cao. Povidone iodine đã được sử dụng để băng bó vết loét từ lâu với kết quả tốt như đã được chứng minh trong các nghiên cứu dữ liệu. Nhưng Nano bạc là một hợp chất tương đối mới và chưa được sử dụng rộng rãi như Povidone iodine.

Nano bạc đã cho thấy một số kết quả đầy hứa hẹn trong nghiên cứu này, cả về thời gian nằm viện và chi phí điều trị tổng thể thấp hơn. Tuy nhiên, do không có nhiều nghiên cứu được thực hiện nên Nano Bạc bị hạn chế so với các nghiên cứu khác. Do đó, cần phải thực hiện thêm các thử nghiệm và xác nhận hiệu quả của Nano Bạc để đạt được hiệu quả chữa bệnh nhanh hơn và tốt hơn ở những bệnh nhân bị loét chân do đái tháo đường.

Do đó, chúng tôi kết luận rằng Nano Bạc có thể được coi là một giải pháp thay thế tốt hơn Povidone iodine trong việc xử trí nhanh chóng và an toàn cho tất cả bệnh nhân bị loét chân / bàn chân do đái tháo đường.

Reference:

NANOSILVER VERSUS POVIDONE IODINE DRESSING- EFFICACY IN THE MANAGEMENT OF CHRONIC DIABETIC FOOT ULCERS.

Abdur Rahaman1, Akshatha Manjunath2, Aparajita Mookherjee Bhattacharya3

1Postgraduate Student, Department of General Surgery, Vydehi Institute of Medical Sciences and Research Centre, Bangalore.
2Assistant Professor, Department of General Surgery, Vydehi Institute of Medical Sciences and Research Centre, Bangalore.
3Professor, Department of General Surgery, Vydehi Institute of Medical Sciences and Research Centre, Bangalore.

Related Posts

Trang web này sử dụng cookie để cải thiện trải nghiệm của bạn. Chúng tôi sẽ cho rằng bạn đồng ý với điều này, nhưng bạn có thể chọn không tham gia nếu muốn. Chấp nhận Đọc thêm

error: Content is protected !!
0907 771 622